Làm sao để Nhật Bản trở thành đất nước không làm thêm

J-Works
0

 Trả lời: Chinatsu Miyazaki

日本で”当たり前”である意識を変えなければ難しいと思います。

Tôi nghĩ rằng rất khó nếu thay đổi nhận thức về những điều được xem là "đương nhiên" ở Nhật.

日本で大学を卒業した直後からニューヨークに住んでおります。ずっと日系の会社で働いてきましたが、日本の社会のことは直接には知りませんので、私の回答は必ずしも一通りではないと思っております。ただ時々ニュースなどを見ていて逆カルチャーショックを受けることがあります。

Tôi đã đến sống ở New York ngay sau khi tốt nghiệp đại học ở Nhật. Tôi đã làm việc cho công ty Nhật trong một thời gian dài nhưng tôi không có hiểu biết một cách trực tiếp về xã hội Nhật Bản cho nên câu trả lời của tôi chưa hẳn đã khái quát hết. Thỉnh thoảng tôi cũng bị sốc văn hóa ngược khi xem tin tức.

リーマンショックの時に気づいたことです。日本のニュース番組を見ていて、日本の街の人たちがインタビューで「残業が減ったから、住宅などの月々の支払いができなくなった」とおっしゃってました。記者の方も、アナウンサーの方も「皆さん、生活が大変になってます」とおっしゃってます。

Trong thời kì Lehmon Shock (cuộc khủng hoảng tài chính 2008 bắt nguồn từ sự phá sản của ngân hàng Lehmon Brothers) tôi nhận thấy, trên các chương trình tin tức của Nhật những người dân thành thị ở Nhật trả lời phỏng vấn rằng: "Vì giờ làm thêm ít đi nên tôi đã không thể chi trả được tiền nhà hàng tháng". Phóng viên cũng như phát thanh viên đều nói " Cuộc sống sinh hoạt của mọi người đang trở nên rất khó khăn".


私がそれを見ていて思ったことは「残業代を月々の支払いに充てることって間違いじゃない?残業って、基本的に必要であればやることでしょ」です。ボーナスも、基本的に、会社の業績が良ければ出るものだと理解してます。

Những suy nghĩ của tôi khi xem những điều này là "Phải chăng có gì đó sai sai khi dùng tiền làm thêm để trả tiền nhà hàng tháng? Tăng ca, về cơ bản là bạn chỉ nên làm nếu nó cần thiết". Và tôi cũng hiểu rằng tiền thưởng sẽ chỉ được trao khi công ty có thành tích tốt.


私は子供が生まれるまで私生活が非常に充実しておりました。毎日一刻も早くオフィスを出て愛する人にバーで会いたい、飲みたいっと思っており、定時上がりを目指してかなりの努力してました。子供が生まれてからは、定時までにデイケアに迎えに行かないと1分遅れるごとに$1チャージがかかるので、頭の血管切れるんじゃないかというぐらいな状態で仕事をこなしてました。

Cuộc sống của tôi trước khi có con đã cực kỳ viên mãn. Mỗi ngày tôi đều rời khỏi văn phòng sớm nhất có thể để đến quán bar gặp người yêu và uống rượu nên mỗi ngày tôi đều nỗ lực làm việc để về đúng giờ. Sau khi sinh con, nếu tôi không đến đón con ở nơi trông giữ trẻ đúng thời gian quy định tôi sẽ bị phải trả thêm chi phí 1USD cho mỗi một phút đến muộn vì thế tôi đã cố làm việc đến mức sắp đứt mạch máu não.

朝はまず今日のタスクを確認し、定時から逆算して定時に終わるように計画だてます。とても間に合いそうにない場合はランチを食べながら仕事したり、極端な例は(ちょっと昔の)ファックスとコピーの両方をしたい場合、各機械の位置と、各かかるスピードを確認し、どちらから始めたら最短時間で済むかを事前に考えてから行動してたほどです。完璧主義で責任感も強いので、どうやったら効率よく、間違いを犯さないかも、事前に考えながら行動してました。同僚とのおしゃべりも仕事しながらやってました。定時に終われそうなのに、直前にお客様から連絡があって残業決定になると、心で泣きながらやってました。

Vào buổi sáng, trước tiên phải xác nhận những việc phải làm hôm nay, tính toán và lên kế hoạch để hoàn thành công việc trong thời gian đã định. Trong trường hợp không kịp thì tôi sẽ vừa ăn trưa vừa làm, một ví dụ có chút cực đoan (hơi cũ) là khi muốn dùng cả Fax và in ấn, tôi sẽ xác định vị trí của các máy, tốc độ của mỗi máy, tôi thậm chí còn nghĩ nên bắt đầu với máy nào trong thời gian ngắn nhất trước khi hành động. Tôi là người theo chủ nghĩa hoàn hảo và có tính trách nhiệm cao, nên tôi sẽ suy nghĩ trước khi hành động để làm sao làm việc một cách hiệu quả cũng như không phạm phải sai lầm. Khi nói chuyện với đồng nghiệp thì tôi vẫn  tranh thủ làm việc. Mặc dù tôi nghĩ dường như sẽ xong việc trong giờ quy định, ngay khi đó có liên lạc từ khách hàng và quyết định phải làm thêm tôi đã vừa làm vừa khóc trong tim.

仕事は好きでなくても、お給料いただいている以上責務はきちんと果たすべきだと思う、まじめな性格です(当たり前か)。また限られた時間内で、タスクを組織だてながら”完璧”にこなすことに快感を覚えるほどになってました。ゲーム感覚みたいなものでしょうか。

Ngay cả khi tôi không thích công việc, tôi là người nghiêm túc và tôi cũng nghĩ rằng mình nên hoàn thành trách nhiệm một cách chỉnh chu miễn là được trả lương đầy đủ ( có lẽ điều này là hiển nhiên). Ngoài ra, tôi cảm thấy thích thú khi vừa sắp xếp nhiệm vụ cần làm vừa hoàn thành công việc một cách "hoàn hảo" trong khoảng thời gian giới hạn. Có lẽ giống như cảm giác chơi game vậy.

残業代は1.5倍になるので、もちろん十分ではない月給取りには魅力的でしたが、そのあとの私生活の方が数倍魅力的だったので、定時に上がるようにしてました。

Tiền làm thêm được gấp 1.5 lần và tất nhiên tiền lương tháng của tôi cũng chưa đủ hấp dẫn nhưng cuộc sống cá nhân sau giờ làm còn hấp dẫn gấp nhiều lần nên tôi vẫn cố gắng để về đúng giờ.

全員とは言いませんが、努力したら時間内に終了させられる人って、実際少なくないと思うのですがどうでしょうか?本当はタイムマネージメントできる人って、日本人だったら器用だから多いと思うですよ。

Tôi không nói tất cả mọi người nhưng tôi nghĩ rằng thực tế có không ít người sẽ hoàn thành công việc đúng giờ nếu họ nỗ lực. Thực ra, tôi nghĩ rằng có rất nhiều người có thể quản lý thời gian bới vì họ là người Nhật nên họ là người khéo léo

残業する理由は以下ではないでしょうか。

  1. 残業代が欲しい、必要
  2. 皆が仕事場にいる(残業している)ので自分だけ帰れないと思っている
  3. After 5に何をしていいか、わからない

Lý do làm thêm có phải là những điều dưới đây

  1. Muốn có tiền làm thêm, cần có nó
  2. Vì mọi người vẫn đang ở công ty (để làm thêm) thì mình không thể ra về.
  3. Sau 5h không biết mình phải làm gì

以下は日本人ですが日本社会にずっと住んでいない私が感じることです。

1は日本の基本給は、根本的に安すぎる気がします。残業もボーナスも、暗黙の了解でほぼ必ず発生するものとしているからこうなっているのでしょうか。基本給が少なければ、残業代で補おうとするのは生きるためには仕方のないことですが、残業の本当の意味が本末転倒になっているような気がします。

Dưới đây là cảm nhận của tôi, một người Nhật nhưng không sống ở Nhật trong một thời gian dài.

Điều 1 là tiền lương cứng của Nhật về cơ bản quá thấp. Có phải là vì tiền làm thêm cũng như tiền thưởng luôn được hiểu ngầm là thứ hầu như sẽ phát sinh. Nếu lương cứng thấp thì sống bằng việc cố gắng làm thêm là điều khó tránh khỏi nhưng ý nghĩa thật sự vốn có ban đầu của việc làm thêm đã mất đi.

2は国民性でしょうね。おもしろいなと思うのは、本当は少なからずの多数が、早く仕事を終えオフィスを出たい、有給休暇だって取りたいと思っているのに、それをやらないどころか、それを実行した人を非難するところです。だって、あなたも早く帰りたいよね?有給休暇だって毎年きっちり取りたいよね?自分ができないからやっている人を責める?お互いさまと思えなくなっている時点で、心が壊れてしまっている気がします。

Điều 2 có lẽ là do tính dân tộc. Điều tôi thấy thú vị là, trên thực tế có không ít người muốn kết thúc công việc sớm và rời khỏi công ty thậm chí muốn nghỉ có lương nhưng thay vì làm việc đó lại đi bắt bẻ những người rời khỏi công ty sớm. Rốt cuộc, bạn cũng muốn về sớm phải không? bạn cũng muốn nghỉ đủ ngày phép có lương hàng năm phải không? Có phải bạn đổ lỗi cho những người về sớm vì bạn không thể tự mình làm điều đó? Tôi cảm thấy trái tim tan vỡ khi chúng ta không thể suy nghĩ cho nhau.

残業が多いので、1日のほとんどが仕事場での生活→お友達も仕事場の人になる→お友達が仕事場にいるので早く帰る必要がない→実際はAfter8になるので、やることは仕事場の人と飲み会→(はじめに戻る)。世界が狭すぎです。そこで何か起これば疲れちゃうのは当たり前ですよ。逃げ場ないんですもの。

Vì làm thêm nhiều nên cuộc sống trong một ngày diễn ra gần như ở công ty → bạn bè cũng là những người ở công ty → vì bạn bè vẫn đang ở công ty thì cũng chẳng cần về sớm → thực tế là sau 8h những việc cần làm là đi nhậu với người ở công ty → ( Quay lại vòng lặp). Thế giới này (công ty) quá nhỏ bé và nếu có chuyện gì xảy ra ở đó, cảm thấy mệt mỏi là điều tự nhiên. Không có lối thoát nào cả.

日本でこの残業が無くなればいろんな問題が改善されると思うんですよ。例えば、

  1. 少子化が改善される
  2. 仕事場という狭い世界から、いろんな種類の世界が広がり、視野が広がる。出会いも広がる。
  3. 仕事の効率が上がる(業績も上がる)
  4. 仕事場でのモラハラ・パワハラが減る
  5. とにかくストレスが減り、ハッピーになれる
Tôi nghĩ rằng sẽ có nhiều vấn đề được cải thiện nếu việc làm thêm giờ biến mất ở Nhật Bản. Ví dụ như:
  1. Tỷ lệ sinh giảm được cải thiện.
  2. Từ thế giới hạn hẹp của nơi làm việc sẽ mở rộng ra nhiều thế giới khác, tầm nhìn cũng rộng mở. Những cuộc gặp gỡ cũng nhiều hơn.
  3. Hiệu suất công việc cũng tăng lên ( kéo theo thành tích doanh nghiệp cũng đi lên.)
  4. Giảm những vụ quấy rối tinh thần, quấy rối quyền lực tại nơi làm việc.
  5. Và bằng cách này hay cách khác thì nó cũng giúp giảm căng thẳng và khiến mọi người cảm thấy hạnh phúc.
この残業で心身ともども、ボロボロでしょう。これだけ拘束されれば、朝晩の通勤で、セックスなんてできるわけない!時間ない!疲れて遊びにも行けないし、パートナーになるなどの新しい出会いもないし、家庭でも分担が偏りすぎていて夫婦・親子ともストレスだらけでしょう。
Việc làm thêm khiến cả tâm trí lẫn cơ thể tả tơi. Nếu bị ràng buộc đến mức phải làm việc từ sáng đến đêm thì không có thời gian để quan hệ tình dục, không thể đi chơi vì mệt, không có các cuộc gặp gỡ mới nào để có thể trở thành người yêu, phân chia công việc trong nhà không đồng đều cũng gây căng thẳng trong mối quan hệ giữa vợ chồng, bố mẹ con cái.

皆がスーパーマンじゃないですよ。でも誰も悪くないですよ。この社会が間違っているって、外から見てるとはっきり見えます。日本人の忍耐強さが自分たちを窒息させてます。”日本の常識は非常識”って、世界の凝縮のニューヨーク市からすると、誰がそんな本当のことを言ったんだ!?当たり!!って思いますよ。

Mọi người không phải ai cũng là siêu nhân. Tuy nhiên cũng không có ai là kẻ xấu. Xã hội này là một sai lầm và điều này có thể nhìn thấy một cách rõ ràng từ bên ngoài. Tính nhẫn nại cao của người Nhật đang bóp nghẹt chính họ. Từ thành phố New York - nơi cô đọng của thế giới, ai đó đã thực sự nói rằng: "Những điều bình thường của Nhật Bản chính là sự bất thường". Chính xác! Tôi nghĩ vậy.

悪いのは残業を”常習化”させている社会です。そこにまず気づかなければいけません。会社が、国が意識を変えるべきです。できないのは視野が狭すぎるからだと思います。記者会見で、攻撃されないことに焦点を置いて、大事な本来の問題について語ってないというのが、視野が狭いっていうんですね。今、どこで何おっしゃってるか、わかりますか、もしもーしって聞いてみたいです。

Điều tồi tệ là xã hội đang biến làm thêm trở thành "tục lệ". Họ phải nhận ra điều đó trước tiên. Công ty cũng như quốc gia cần phải thay đổi tư duy của họ. Tôi nghĩ rằng họ không làm được là vì tầm nhìn quá hạn hẹp. Tại các cuộc họp báo, việc chỉ tập trung vào làm sao để không bị công kích hay không nói về những vấn đề vốn dĩ quan trọng chẳng phải là thể hiện một tầm nhìn thiển cận sao. Tôi muốn hỏi rằng liệu họ có hiểu họ đang nói gì và ở đâu vào lúc này không.

残業にしても何にしても、高度経済成長を生きてきた方々(と、我らバブル時代の一部の方々)には即行に引退していただき、氷河期の大変苦労なさっている方々に、社会をお渡しいただくのが一番だと私は思います

Tôi nghĩ rằng cách tốt nhất là dù là làm thêm hay bất cứ điều gì, những người sinh ra trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao (và một phần những người trong thời kỳ bong bóng) hãy nghỉ hưu ngay lập tức và trao lại xã hội cho những người làm việc vất vả trong trong thời kỳ Kỷ băng hà.

え?バイトとか派遣とかで、専門的な知識・経験がない??いえいえ、ありますよ、この状態から抜け出したい、改善したいっていう、並々ならぬ意識が!この意識は本物です。だって命かかってますもの。失敗しても、すぐに立て直す底力が氷河期世代にはあると思います

Sao? Những người làm thêm và làm thời vụ không có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm sao? Không không, không hẳn. Họ ý thức mạnh mẽ rằng cần phải thoát ra khỏi tình trạng này và cải thiện nó và ý thức này là có thật bởi vận mệnh của họ đang bị đe dọa. Tôi nghĩ rằng cho dù có thất bại đi nữa thì thế hệ kỷ băng hà có đủ tiềm lực để vực dậy ngay lập tức. 

本当に日本のことを考えているのであれば、この世代に社会を受け渡す勇気を持ってください。そして後ろで彼らが倒れないように支えるのが人生の先輩のやることです。(世代交代について、台湾のオードリー・タンさんの考え方も参考になりますよ)

Nếu thực sự suy nghĩ cho Nhật Bản, hãy dũng cảm trao lại xã hội cho thế hệ này. Và vai trò của những tiền bối trong cuộc sống là đứng đằng sau hỗ trợ để họ không bị vấp ngã ( về việc chuyển giao thế hệ, có thể tham khảo ý tưởng của Audrey Tang của Đài Loan)

一般的に聞こえるようですが、これができない限り、日本は変わりません。日本に人生の半分以上住んでいない私には、日本の社会が一般・日常ではないので第三者的に見てしまうのですが、今の日本はかなりの重傷・重症に見えます。

Nghe có vẻ chung chung nhưng nếu không làm điều này Nhật Bản sẽ không thay đổi. Là một người không sống ở Nhật hơn nửa đời người, tôi nhìn nó dưới góc độ của người thứ 3 vì xã hội Nhật Bản không bình thường nhưng có vẻ tình hình ở Nhật hiện nay khá nghiêm trọng.

若いのに苦労されている人たち、頑張れ!!あなたたちができる!

Những ai đang gặp khó khăn khi còn trẻ hãy cố lên, các bạn có thể làm được.

氷河期世代が社会を変えるだと思います。

Tôi nghĩ rằng thế hệ Kỷ băng hà chính là chìa khóa để thay đổi xã hội.

( Thế hệ Kỷ băng hà: thuật ngữ để chỉ thế hệ những sinh viên tốt nghiệp đại học từ 1993 đến năm 2004. Vì sống trong thời kỳ bong bóng của Nhật nên không thể tìm kiếm được việc làm và họ đã chấp nhận làm những việc làm không cố định.)



Post a Comment

0Comments

Post a Comment (0)